You are here: Home Thắc Mắc & Giải Đáp mới 11. Mừng chúc đám cưới, Phúng điếu đám tang...
Document Actions

11. Mừng chúc đám cưới, Phúng điếu đám tang...

by Joseph Tien last modified 2007-08-29 05:05

Kính gửi Cha Bùi Đức Tiến,

Con viết thư này đến Cha thay cho một số các anh chị em quen biết nữa.

Thưa Cha, trong thời gian gần đây, có một số người bối rối khi tham dự những đám cưới và đám an táng trong liên hệ đến việc tiền bạc “mừng ngày thành hôn” và “phúng điếu”. Sự bối rối đưa đến thắc mắc không biết phải xử trí thế nào cho yên tâm và tốt đẹp trong tình cảm.

Đối với các đám cưới thì tương đối dễ dàng, vì hầu như đám cưới nào các chủ sự cũng đã nghĩ đến chuyện “bao thư mừng” (con nghĩ vậy không biết có đúng không?). Ngay khi đến cửa, được người ta chào đón, mình chụp hình rồi bỏ bao thư mừng đã chuẩn bị sẵn vào nơi đã định, thế là vui vẻ an tâm dự tiệc. Nhưng còn đám an táng thì thật là khó xử. Mình đến tham dự tay không, rồi cũng ra về tay không, con thấy nó ngượng ngùng và “bơ vơ” làm sao ấy, mặc dù nhà “hiếu” có bố cáo tường tận là “Xin miễn phúng điếu” nhưng con vẫn cảm thấy như chưa làm đủ bổn phận tham dự đám an táng. Xin Cha bớt thì giờ giải thích một vài điểm giúp cho chúng con và nhiều người khác nữa bớt “bối rối” trong những hoàn cảnh này.

Một trường hợp nữa, chúng con cũng muốn biết thêm về hoàn cảnh của các đám an táng Công giáo (Xin miễn phúng điếu) và việc xin lễ. Xin miễn phúng điếu và trao bao thư xin lễ cho người trong gia đình có liên hệ với nhau như thế nào?

Xin Cha giải đáp cho chúng con sớm sớm vì gần đây hình như có nhiều đám an táng hơn trước kia Cha ạ!

Xin Chúa ban cho Cha nhiều sức khỏe để Cha phục vụ tốt các con chiên.

Trần thị Học,

 

Thăm chị Học. Tôi biết đây không phải là tên thật của chị, nhưng cũng cám ơn chị đã cho tôi một cái tên để xưng hô cho dễ dàng khi chia sẻ với chị và các anh chị em chị quen biết.

Thứ nhất, tôi xin đề cập đến việc mừng đám cưới: Như chị biết (và tôi cũng biết) là các chủ sự đã tính đến chuyện bao thư mừng này ngay cả trước khi đặt thiệp mời và thậm chí có một số người giỏi giang, ngay sau khi gửi thiệp mời, họ đã có thể tính luôn được cả việc lời lỗ nữa kìa (tôi nghĩ như vậy không biết có đúng không?)

Người Việt Nam chúng ta đến từ một quốc gia nghèo với một tập quán tương thân tương ái tốt đẹp. Các câu tục ngữ “chị ngã em nâng”; “bán anh em xa mua láng giềng gần” là như thế đó. Người này có việc thì người kia giúp, giúp xong, mai này mốt nọ, người kia có việc thì người này lại giúp lại, không phải chỉ bằng sức lao động mà thôi mà ngay cả đến những chi tiết tế nhị và cần thiết khác kể cả vấn đề như tài chánh chẳng hạn. Dần dà, tập quán trở thành phong tục và rồi nó biến thành văn hóa lúc nào không biết. Cuối cùng, sự việc trở thành nếp sống, phong hóa của người Việt Nam. Sang Úc cả bao nhiêu năm rồi mà phong tục tập quán vẫn chưa phai tàn, chưa giúp được, chưa chia sẻ được, thì thấy áy náy, bơ vơ, đi tay không lại về tay không. Sở dĩ chị cảm thấy như vậy là vì chị chưa phân biệt rõ ràng hai loại “đám” khác nhau đấy thôi.

Về việc tang chế thì ngay từ Việt Nam ngày xưa, trừ một vài hoàn cảnh gia đình nghèo, eo hẹp về tài chánh, người Việt Nam không có tục lệ phúng điếu (phúng điếu ở đây hiểu là giúp tiền bạc qua lại trong việc ma chay, an táng).

Không phúng điếu vì chữ “hiếu” ở Việt Nam nặng lắm. Chữ “hiếu” ở đây diễn tả thái độ bên ngoài của mọi người đối với nhau: giữa cháu chắt, con cái, cha mẹ, ông bà v. v... Từ ngữ “ông bà” sử dụng ở đây, hiểu theo nghĩa thông thường bao gồm cả những người nhỏ tuổi đã qua đời nữa.

Một gia đình có một đứa con qua đời – Sinh thành dưỡng dục – Sinh ra được thì nuôi được. Nuôi khó khăn thì lại nại vào câu nói của ông bà để lại: “Trời sinh voi, trời sinh cỏ”. Khi đứa con chết, phải an táng thì cũng bòn chắt chút đỉnh cho tương đối coi được với người ta.

Một gia đình có ông bà, cha mẹ thất lộc mà con cái không lo cho được một lễ an táng cho phải phép thì ăn không ngon, ngủ không yên, chưa kể là hàng xóm láng giềng còn chê trách nhiều điều.

Bản niêm yết “Xin Miễn Phúng Điếu” diễn tả một niềm tự hào của con cái cháu chắt: tự mình có thể đủ sức lo liệu được cho người thân đã qua đời. Gọi là nhà “hiếu” là như vậy: thể hiện toàn vẹn việc hiếu đễ với người đã xuôi tay nhắm mắt.

Xét về phương diện thiêng liêng, tự bản chất của mỗi người Việt Nam là hữu thần, là theo đạo ông bà, là nhớ ơn tổ tiên, là “uống nước nhớ nguồn”, là “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.

Đối với những người không phải là công giáo thì đốt một vài nén nhang kính vái, tổ chức những buổi kinh cầu siêu cho linh hồn người quá cố được siêu thoát là những việc phải làm, không làm thì lỗi đạo làm người.

Đối với người công giáo thì đọc kinh, dâng lễ cầu nguyện là việc làm không thể thiếu được. Việc đọc kinh tại gia một vài buổi thể hiện tình liên đới chia vui sẻ buồn. Việc xin dâng lễ cầu nguyện là việc riêng của người muốn xin dâng lễ và các linh mục được phép dâng lễ. Có người quá bối rối trong hoàn cảnh như chị trình bày, mặc dù nhà “hiếu” đã niêm yết “Xin Miễn Phúng Điếu” vẫn cứ cố gắng nhồi nhét vào tay người đang chịu tang, đang buồn phiền, đang lo âu mất ăn mất ngủ, tinh thần đang giao động, một bao thư “xin lễ”, rồi đẩy qua, dúi lại... thật là khó coi.

Cuối cùng, như tôi đã trình bày ở trên, mừng chúc đám cưới với một “bao thư” là tập quán đáng yêu của người Việt Nam, có lẽ cũng chưa bỏ được và có lẽ cũng không nên bỏ, chỉ nên ghi lại để sau này “vần công”, hoàn lại việc mừng chúc khi người ta có việc. Còn đám an táng thì như thế đó. Gặp các linh mục để xin dâng lễ theo ý chỉ. Tôi trộm nghĩ, chắc không có ai ghi lại việc “xin lễ phúng điếu” này để sau này trả lễ đâu.

Qua một vài chia sẻ trên, hy vọng chị và các bạn sẽ yên tâm cầu nguyện cách sốt sắng hơn cho người quá cố mỗi khi tham dự một đám an táng.

 


This site provided with the assistance of the Davis Community Network.